Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012

ĐIỀU GIÀU CÓ NHẤT (ST của người st )

Đăng ngày: 12:25 05-03-2012
Thư mục: Tổng hợp
         http://farm4.static.flickr.com/3198/2366770017_d755f16fdd.jpg
   Chúng ta được sinh ra với đôi mắt nằm phía trước để luôn nhìn sự việc đang diễn ra thay vì cứ ngoái nhìn lại những gì đã qua.
   Chúng ta được sinh ra với đôi tai - một tai trái và một tai phải - để có thể nghe cả hai phía, để nghe đủ những lời ca tụng cũng như phê bình, để phân biệt đúng sai.
  Chúng ta được sinh ra với bộ óc nằm dưới hộp sọ - cho dù có nghèo đi chăng nữa thì chúng ta vẫn giàu có vì chẳng ai có thể lấy cắp được bộ óc sinh sản ra nhiều suy nghĩ và ý tưởng độc đáo.
  Chúng ta được sinh ra với đôi vai nối liền đôi tay để gánh vác những nhiệm vụ, trọng trách. Hơn nữa, một để giúp đỡ bản thân, một để giúp đỡ người khác.
  Chúng ta được sinh ra với một đôi chân - chân đi vào cuộc sống - chân trần trụi mềm yếu dể bị tổn thương trên đưởng đời và nhuốm bẩn bụi trần ...Biết đi và dừng lại đúng lúc ...
  Nhưng chúng ta chỉ sinh ra với một cái miệng - vì miệng là vũ khí sắc bén. Nó có thể làm tổn thương, đau lòng hay giết chết kẻ khác. Hãy ghi nhớ câu nói: Nói ít - nhìn thấy và lắng nghe nhiều.
  Chúng ta được sinh ra với chỉ một trái tim nằm sâu trong lồng ngực nhắc nhở ta phải biết trân trọng và biết yêu vô điều kiện.
                                               (ST)

LỄ HỘI ĐỀN THỜ LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN MAC-ĐĨNH-CHI 03-3-2012 (10-02-NHÂM THÌN)


Lễ hội đền Mạc Đĩnh Chi
  03/03/2012 09:10:37 AM

Mạc Đĩnh Chi có tiếng là liêm khiết. Ông sống giản dị, lạc quan, mang hết tâm lực và trách nhiệm của mình để phục vụ đất nước...



Đền thờ Mạc Đĩnh Chi đang tiếp tục được trùng tu, tôn tạo
Mạc Đĩnh Chi (1280 - 1346), tự là Tiết Phu, người làng Lũng Động, huyện Chí Linh nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, Nam Sách. Ông đỗ trạng nguyên năm 1304, làm quan đến chức Tả bộc xạ dưới triều vua Trần Anh Tông. Ông đã 2 lần đi sứ phương Bắc. Với khí phách kiên cường, tinh thần tự tôn dân tộc và tài văn thơ, ứng đối mẫn tiệp, ông được vua Nguyên rất vị nể, thán phục và phong làm Lưỡng quốc Trạng nguyên.


Mạc Đĩnh Chi làm quan dưới 3 triều vua đời Trần: Trần Anh Tông, Trần Minh Tông và Trần Hiến Tông. Tuy làm quan nhưng Mạc Đĩnh Chi có tiếng là liêm khiết. Ông sống giản dị, lạc quan, mang hết tâm lực và trách nhiệm của mình để phục vụ đất nước.


Sau khi Mạc Đĩnh Chi qua đời, nhân dân đã lập đền thờ ngay tại quê hương ông. Ngôi đền tọa lạc trên diện tích đất rộng trên 2.000 m2 ngay đầu làng thôn Long Động. Ngôi đền hiện còn thờ 2 vị đại khoa nữa đều là trạng nguyên họ Mạc thời vua Lý Nhân Tông là Mạc Hiển Tích (đỗ trạng nguyên năm 1086) và Mạc Kiến Quan (em ruột của Mạc Hiển Tích, đỗ trạng nguyên năm 1089). Trong những năm thực dân Pháp xâm lược, ngôi đền đã bị phá huỷ. Đến năm 1992, nhân dân địa phương phục dựng lại ngôi đền và hằng năm thường xuyên tu bổ. Ngôi đền được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1995.  Để bảo tồn, phát huy giá trị di tích và thể theo nguyện vọng của đông đảo nhân dân, ngày 31-12-2009, UBND tỉnh phê duyệt dự án đầu tư xây dựng, tu bổ, tôn tạo ngôi đền với tổng kinh phí 44 tỷ đồng. Dự án gồm 12 hạng mục và được chia làm 3 giai đoạn. Đến cuối năm 2011, hoàn thành giai đoạn 1, gồm đền chính, nhà tả vu, hữu vu. Đền chính gồm 5 gian tiền tế, 3 gian trung tế và 2 gian hậu cung. Các cột, xà đều được làm bằng gỗ lim, trạm trổ hoa văn tinh tế. 2 gian hậu cung đặt thờ 3 vị đại quan là: Mạc Hiển Tích (bên phải); Mạc Kiến Quan (bên trái) và Mạc Đĩnh Chi (ở giữa). 2 nhà tả vu và hữu vu là nơi tiếp khách và trưng bày tư liệu lịch sử vương triều nhà Mạc và thân thế sự nghiệp Mạc Đĩnh Chi. Cũng nằm trong quần thể di tích về phía đông là nhà tưởng niệm nữ anh hùng Mạc Thị Bưởi (quê ở Long Động, xã Nam Tân), hy sinh trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ở phía tây còn có giếng cổ trồng sen. Hiện lăng mộ của cụ Mạc Đĩnh Chi và thân phụ, thân mẫu của ông nằm ở thôn Long Động, cách quần thể di tích khoảng 1km về phía đông nam. Ngoài ra còn có điện Sùng Đức nằm về phía đông bắc của làng nhìn ra sông Kinh Thầy do vua Mạc Đăng Dung (cháu 7 đời của Mạc Đĩnh Chi) xây trên nền nhà cũ của Mạc Đĩnh Chi nhằm thể hiện lòng tri ân với các bậc tiên hiền có công với nước.


Mặc dù ngôi đền vẫn đang trong quá trình trùng tu, tôn tạo, nhưng với tấm  lòng tri ân, tưởng nhớ ngày mất của Mạc Đĩnh Chi, lượng khách thập phương về dự lễ hội và lễ dâng hương khá đông. Ông Bùi Hữu Chỉnh, Chủ tịch UBND xã Nam Tân cho biết: Để tạo điều kiện thuận lợi cho khách thập phương về dự lễ hội, xã Nam Tân đặc biệt quan tâm tới công tác quản lý lễ hội. Đẩy mạnh tuyên truyền các quy định của lễ hội. Chỉ đạo Ban Công an và Ban Chỉ huy quân sự  xã phối hợp bảo đảm an ninh trật tự trong khu vực diễn ra lễ hội; bố trí khu vực để xe của khách và cắt cử người trông giữ xe. Thôn Long Động phối hợp với đội thu gom rác thải bảo đảm vệ sinh môi trường trong suốt thời gian lễ hội. Nội dung tổ chức lễ hội được đổi mới, tăng phần hội với các hoạt động văn hoá, văn nghệ, các trò chơi dân gian lành mạnh, mang tính giáo dục cao.

QUỐC ĐÔNG

DI TÍCH GIÁO DỤC XỨ ĐÔNG XƯA (TRẦN NHUẬN MINH)



Di tích của nền giáo dục xứ Đông xưa
  24/02/2012 09:31:09 AM

Nhà dạy học cũ của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi ở làng Tông Xá, huyện Chí Linh là Trạng nguyên cổ đường, một trong Chí Linh bát cổ.




Nơi thờ Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi hiện nay tại thôn Linh Khê (Thanh Quang, Nam Sách)
 được cho là Trạng nguyên cổ đường xưa
Nhà dạy học cũ của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi ở làng Tông Xá, huyện Chí Linh, thời Trần, nay là làng Linh Khê, xã Thanh Quang (Nam Sách). Đây là Trạng nguyên cổ đường (nhà dạy học cũ của Trạng nguyên), một trong Chí Linh bát cổ.


Mạc Đĩnh Chi (1280 - 1346), người làng Lũng Động, huyện Chí Linh, nay là làng Long Động, xã Nam Tân,  huyện Nam Sách, tên chữ là Tiết Phu, đỗ Trạng nguyên năm 1304, làm quan đến chức Tả bộc xạ, dưới triều vua Trần Anh Tông. Ông đã hai lần đi sứ Bắc, làm vẻ vang cho quốc gia Đại Việt, được vua nhà Nguyên rất khâm phục, phong là Lưỡng quốc Trạng nguyên. Cuối đời, ông về mở trường dạy học tại làng Tông Xá, gần làng ông, cạnh đường cái quan của bản huyện.


Trong cuộc đời của Mạc Đĩnh Chi, nổi tiếng nhất vẫn là chuyện ông đối đáp trong một (hoặc cả hai) lần đi sứ Bắc, cực kỳ tài giỏi thông minh, đầy khí phách, được coi là biểu tượng kỳ tài của trí tuệ Việt. Ông cũng là vị quan nổi  tiếng thanh liêm, hết lòng vì dân, vì nước, vì sự trong sạch của triều đình. Tất cả những điều đó, cùng với hành trạng của ông, đều được ghi đầy đủ trong các truyện kể, các giai thoại văn học, in đi in lại nhiều lần, dường như không người Việt Nam nào không biết. Tất cả những chi tiết đó đều xuất phát từ một văn bản gốc, đó là truyện Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi của Trần Tiến, một nhà sử học và một nhà văn rất nổi tiếng ở thời Lê.


Theo ghi chép từ tháng 8 năm Bính Thân (1796) của Trần Trợ, thì tháng 3 năm Canh Dần (1770),  sau khi vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786) cho phép bản huyện thờ ba vị “Thượng đẳng phúc thần” là Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng và Thái bảo Tham tụng thượng thư, nhà nông học đầu tiên của Việt Nam Trần Cảnh, chính Trần Tiến đã “xem khắp địa hình của bản huyện, lập từ chỉ”  ở đây, nơi thờ ba vị phúc thần và các bậc tiên hiền đỗ đạt, “vì chùa Quất Lâm, Tông Xá là giảng đường cũ của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi người Lũng Động” (sách Niên phả lục).Từ đó, có thể hiểu: Văn chỉ Linh Khê hiện nay là do Triều liệt đại phu, Phó đô Ngự sử Trần Tiến lập năm 1770 trên nền cũ của ngôi nhà mà Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi từng dạy học, bên cạnh chùa Quất Lâm. Trước đó, sau năm 1748, chưa rõ vào năm nào, ông đã bỏ tiền lương của mình sửa sang lại di tích này .


Những năm 1952 - 1953, tôi đã tản cư ở đây và thường có mặt trong khu di chỉ này, lúc đó chưa bị tàn phá. Bây giờ tôi cũng qua lại thăm nhiều lần. Ba vị thượng đẳng phúc thần đã được tạc tượng lại để thờ, ba bức tượng khá đẹp, tôn kính, nhưng rất tiếc được đặt trong gian nhà quá nhom nhem. Cạnh đó là nhà văn hoá thôn, trưng bày có phần còn lộn xộn. Quý nhất là tấm bia đá Chí Linh bát cổ còn hầu như nguyên vẹn, sau 23 năm nằm sâu dưới đáy ao (1968 - 1991). Bia là khối đá vuông liền khối, cao hơn 2 mét khắc bài thơ Chí Linh bát cổ của tác giả có tên hiệu là Thanh Hiên (mà có người nêu giả thuyết rằng có thể là sáng tác của Đại thi hào Nguyễn Du). Bài thơ làm năm 1795, khắc đá năm 1798, dựng bia năm 1800. Tấm bia đã được công nhận là di tích lịch sử và văn hoá cấp tỉnh.


Điều tôi quan tâm hơn cả vẫn là tổng thể của di tích lịch sử hiếm có, mang tầm quốc gia, là nhà dạy học cũ của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi ở thời Trần. Chúng ta đang xây dựng một xã hội học tập, thì đây là một địa chỉ quý hiếm, có thể nói là linh thiêng, của nền giáo dục xứ Đông xưa, lại đặt ở huyện Nam Sách, một huyện được ghi nhận là có số tiến sĩ nho học nhiều nhất trong cả  nước.


Tôi rất mong tỉnh và huyện Nam Sách sửa sang, nâng cấp di tích này thành biểu tượng của sự khuyến học. Đây sẽ là nơi vinh danh các hiền tài, tập huấn và hội thảo khoa học giáo dục, trao thưởng cho các học sinh giỏi các cấp, nơi phát huy những giá trị về  văn hoá và đạo lý, từ ba vị danh nhân, nhất là từ Mạc Đĩnh Chi, và truyền thống của quê hương, của huyện, của tỉnh và của cả nước, để xây dựng những cốt cách và tầm vóc mới của con người Việt Nam ngày hôm nay, có  thể  “sánh vai với các cường quốc năm châu” như mong muốn ngày nào của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.


TRẦN NHUẬN MINH

Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

Văn tế quan tham
Kha Tiệm Ly
 

Hởi ôi!
Nước chảy lạnh lùng,
Mưa bay lất phất!
“Cây trong núi ngàn tuổi dễ tìm,
Người ở đời trăm năm khó gặp!”

Lúc sống, nhà còn ở mấy tầng,
Khi chết, thây cũng vùi ba tấc! 

Nhớ linh xưa,
Quyền thế ngang trời,
Uy phong lệch đất!
Đi nửa bước, hộ vệ bám kè kè,
Ho một tiếng dân đen run lập cập!

Rõ là:
Trôn con trẻ trây cứt trây phân,
Miệng nhà quan có gang có thép!
Mánh mung rút bòn vật liệu, mà cầu đường nhà nước xuống cấp ào ào,
Lập lờ cắt xén đất đai, nên nhà xe quan ngài lên đời tới tấp!
Mặc người đi đường té xuống té lên,
Thây kẻ qua cầu rớt tim rớt mật!
Nói sao xuể, bao điều vô sỉ từ nhỏ đến to,
Ghi khôn cùng, đủ lối gian manh từ A tới Z!
Xem báo viết, thiếu điều nhức óc nhức xương,
Mở “web- sai”, càng thêm tối mày tối mặt!

Thế mà,
Vào công vào việc, lơ mơ tựa giống cù lần,
Thấy của thấy tiền, lít xích như con lật đật!
Thời làm lính, học lem nhem ba chữ i tờ,
Lúc lên quan, “đậu” lủ khủ một lô bằng cấp!
Ruộng tốt trăm vuông,
Vàng ròng thiên dật!
Cược ván cờ vài tỉ, việc tưởng như đùa,
Đặt canh bạc vạn “đô”, không dè chuyện thật!
Châu đầu châu mặt cố moi dự án trên trời,
Quơ tay quơ chân cứ nhét nong đầy túi.
Là trưởng giả ai lại xài thứ bèo Phú Lễ, Gò Đen.
Đã nhà quan thì phải chơi hàng hiệu “Mạc- Ten”, “Cô Nhắc!”
Bạc vàng đem bỏ vào tráp vào rương,       
Xe công mang đi sờ đùi sờ nách!          
Bạc trắng của chùa, xài hoang vung thẳng hai tay;
Đít đen thằng mõ, chạy thuế lòi đom một khúc!
Bất lương đâu kém gì thằng Tần Cối, Tần… Chày,
Vô sỉ chẳng thua lũ Hòa Thân,  Hòa… Thiết! (!)

Lạ chi,
Tai trâu mặt lợn, nào dè muôn tiếng thị phi,
Mồm thép miệng gang, chẳng tiếc trăm điều hống hách!.
Báo ngày tốn bao nhiêu mực, xem chừng đàn khảy tai trâu,
Báo mạng mất bấy nhiêu công, nào khác nước ngoi đầu vịt!

Chỉ vì
Cái óc cái tim đen cỡ mực tàu ,
Cái mặt cái mày, dày như tấm thớt!
Để rồi hôm nay,
Khi thân tại chức, chẳng xì được tiếng thơm tho,
Lúc xác ém sâu, vẫn bốc ra mùi thúi hoắc!
Ngán uy sợ thế, bao người trước mặt cúi đầu,
Miệt đức khi tài, khối kẻ sau lưng đấm c…*
Con thơ nhóc nheo mấy hệ, mặc người xưng bố, xưng ba,
Vợ trẻ mơn mởn dăm bà, mạnh kẻ đổ lờ đổ lọp!
Tim gan dơ tợ máu cùi,
Tiếng tăm thúi hơn cóc chết!
Ngưu đầu mã diện đành giở nón chào thua,
Quỉ sứ ma vương cũng dập đầu bái phục!

Những tưởng,
Sống, tiếng nổi lẫy lừng,
Chết, người thăm chật ních!

Nào dè,
Từ lúc xuôi tay,
Tới khi liệm xác.
Ngoài vợ con thì khóc hu hu,
Còn ai nấy đều cười khặc khặc!

Hôm nay,
Rặn dăm câu dăm chữ, thảo điếu văn thống thiết một bài,
Quệt chút ớt chút tiêu, cho làng xóm xốn xang đôi mắt!
Đã không cửa đi đến Tây Thiên,
Thì chắc ăn tìm về Địạ Ngục!
Thành kính dâng ngài,
Nói nhiều không tốt!
Ô hô! Có linh xin hưởng!

Chú Thích: * Thành ngữ :  “cúi đầu trước mặt, đấm c… sau lưng”

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2012

MƯA XUÂN CÔN-SƠN

hướng lên đền thờ cụ Trần Nguyên Đán

MƯA XUÂN CÔN-SƠN

Mưa xuân tô đậm sắc cây
Tô mờ trời đất,tô dầy nét xuân
Ta đang ở giữa cõi trần
Ngỡ như đang ở cõi thần,cõi tiên !

Côn Sơn 05-3-2012 T.D

BẠN ĐẾN THĂM NHÀ ĐỂ LẠI THƠ



Thanh vắng ?

Mỗi lần lên mạng ghé qua
Thấy gian nhà vắng trắng ga, gối đầu…
Chẳng hay nhà chủ đi đâu
Mà trang Blog lâu lâu chưa vào
Hay là ngọc thể làm sao
Để gian nhà trống chưa vào ngủ chung ?

8/3/2012
Đỗ Đình Tuân


Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2012

DÂNG THƠ NGÀY GIỖ CỤ TRẠNG NGUYÊN 2 NƯỚC VIỆT-TRUNG LẦN THỨ 666 TẠI ĐỀN THỜ CỤ Ở THÔN LONG-ĐỘNG XÃ NAM-TÂN HUYỆN NAM-SÁCH TỈNH HẢI-DƯƠNG NGÀY 02-3-2012 (10-02-NHÂM THÌN)

BAN THỜ LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN MẠC ĐĨNH CHI
TOÀN CẢNH NHÀ THỜ LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN MẠC ĐĨNH CHI TẠI NAM-TÂN NAM-SÁCH HẢI-DƯƠNG
NHÀ THƠ NGUYỄN BÁ PHÚ ĐỌC THƠ
BLĐ 2 CLB BÓNG NƯỚC KINH THÀY & HƯƠNG SEN ĐIỀU HÀNH LỄ DÂNG THƠ CỤ MẠC
NGHỆ SĨ XÃ NAM-TÂN TRÌNH DIỄN THƠ ĐƯỜNG XƯỚNG HỌA
NGUYỄN VĂN LIÊM -CT CLB THƠ ĐƯỜNG NAM-SÁCH ĐỌC CHÚC VĂN DÂNG HƯƠNG
NGÂM THƠ GIỌNG NỮ
LỄ DÂNG HƯƠNG CỦA CÁC NHÀ THƠ
LỄ DÂNG HƯƠNG CỦA CÁC NHÀ THƠ
NHÀ THƠ ĐẶNG ĐÌNH BAN ĐỌC THƠ
NHÀ THƠ HOÀNG BÌNH QUÂN ĐỌC THƠ
NHÀ THƠ HẢI-HÒA ĐỌC THƠ
KHÁN GIẢ CHĂM CHÚ LẮNG NGHE
LÃNH ĐẠO XÃ NAM-TÂN CỔ VŨ CÁC NHÀ THƠ
LẠI MỘT GIỌNG NGÂM TRUYỀN CẢM
CÁC NGHỆ SĨ THAM GIA BIỂU DIỄN
CÁC NHÀ THƠ VỪA LẮNG NGHE,VỪA BIỂU DIỄN
TIẾT MỤC HÁT CHÈO
NHỮNG KHÁN GIẢ NHIỆT TÌNH
NHỮNG KHÁN GIẢ NHIỆT TÌNH