Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

CHÙM THƠ XƯỚNG HỌA (TỪ LÊ THIÊN MINH KHOA)

Thứ tư, tháng năm 1


Chùm thơ xướng họa: CẢM HOÀI (21 bài họa). LÊ THIÊN MINH KHOA và các thi hữu: Mặc Phương Tử, Huỳnh Mai Trang, Xuân Lộc, Phan Thị Thanh Minh, Vĩnh Hoàng, Lê Bá Lộc, Trần Văn Hạng, Hồ Trọng Trí, Lê Văn Thanh, Hồ Hắc Hải, Lê Trường Hưởng, Nguyễn Thanh Bá, Nguyễn Thanh Xuân (2), Thanh Dạ, Tạ Anh Ngôi , Trần Ngộ, Lê Chí Phóng, Lê Đăng Mành, LÊ GIAO VĂN, Nguyễn Tường


tạp chí TIẾNG QUÊ HƯƠNG: Bài thơ CẢM HOÀI của LÊ THIÊN MINH KHOA đăng trên tiengquehuong.blog.yahoo trước đây được nhiều  diễn đàn văn nghệ trong nước: Tri Âm Các, Văn Nghệ Quảng Trị, thoduonghanoi, datdung, thoduongdatviet, vandanvn.net, thanhda, thpt-camkhe-phutho,  ruoulanghopngontuyet, triancuocdoi, langhopnamhong..., hoặc dẫn nguồn về đăng lại mời họa vận hoặc tổng hợp lại thành chùm thơ xướng họa lên trang mời độc giả, thi hữu thưởng lãm... Tạp chí TQH và lethienminhkhoa xin chân  thành cám ơn BBT các diễn đàn cùng các thi hữu đã đồng điệu họa thơ   và xin  dẫn nguồn đăng lại 21 bài họa (có biên tập lại tựa để tránh lỗi mạ đề) từ các trang mạng đó (trước đây,  tiengquehuong.blog. yahoo cũng chỉ đăng  từng bài hoặc nhóm bài  họa trên các entry riêng)

Lê Thiên Minh Khoa ở Nhà Sáng Tác Đà Lạt

    Chùm thơ xướng họa:

CẢM HOÀI. LÊ THIÊN MINH KHOA và 21 thi hữu: Mặc Phương Tử, Huỳnh Mai Trang, Xuân Lộc, Phan Thị Thanh Minh, Vĩnh Hoàng, Lê Bá Lộc, Trần Văn Hạng, Hồ Trọng Trí, Lê Văn Thanh, Hồ Hắc Hải, Lê Trường Hưởng, Nguyễn Thanh Bá, Nguyễn Thanh Xuân(2), Thanh Dạ, Tạ Anh Ngôi, Trần Ngộ, Lê Chí Phóng, 
Lê Đăng Mành, LÊ GIAO VĂN, Nguyễn Tường

Xướng:

LÊ THIÊN MINH KHOA
.

CẢM HOÀI  

Có phải đi rồi đi mãi đâu !
Người đi để lại những đêm thâu
Mòn khuya chỉ một mình em thức
Nhầu tóc còn bao nửa sợi sầu
Nhìn ngọn Chứa Chan chan chứa nhớ
Trông dòng Thương Bạc bạc thương đau
Chừ tang thương quá, thương thương lắm
Chưa thấy trùng dương đã trắng  đầu! 

                      LTMK

alt


Họa 1:
 

MẶC PHƯƠNG TỬ.


NHƯ GIỌT TRĂNG SƯƠNG
 

Bạc dấu rêu còn biết hỏi đâu
Vo tròn nỗi nhớ nát canh thâu !
Đàn treo gác lạnh buồn tơ phím
Ý đọng dòng khuya vỡ mạch sầu.
Lệ sử còn thơm tình sử thắm
Cung đời vẫn nhịp khối đời đau!
Đêm đêm bóng nhỏ hoài tâm sự
Từng giọt trăng sương điểm mái đầu.
                      Long Xuyên, 28 tháng 5.2012
                           MẶC PHƯƠNG TỬ.

Họa 2:

Huỳnh Mai Trang

HOÀI CẢM .
 
Người về thoáng chốc lại đi đâu?
Thoát rơi ngầy ngật suốt canh thâu
Lối xưa tím ngắt bằng lăng nhớ
Đường cũ  vàng hoe  suối lạnh sầu
Bên nọ Núi Ông ông Núi nhớ
Phía nầy Bà Đội đội mà đau
Xa cách muôn trùng, xa cách mãi
Bao giờ trở lại thưở ban đầu !
Huỳnh Mai Trang, An Giang.

 
Họa 3:
XUÂN LỘC
             
CHỜ ANH

Tìm cả trong mơ chẳng thấy đâu
Mong nhau mòn mỏi  suốt canh thâu
Trước sân vắng vẻ cành hoa tủi
Dưới mái cô liêu một bóng sầu
Ngắm núi Bài Thơ thơ thổn thức
Trông dòng Tam Bạc bạc niềm đau
Dẫu lòng nhung nhớ bao mong nhớ
Em nguyện chờ anh đến bạc đầu!
XUÂN LỘC, Hà Nội

Họa 4:
PHAN THỊ THANH MINH


NHỚ XƯA 
    
Từ ngày đưa tiễn mãi về đâu
Trằn trọc đêm dài đến sáng thâu
Chợt tỉnh cồn cào khơi nỗi khát
Vừa mơ thổn thức gợi cơn đau
Đến hồ Than Thở  thở than nhớ
Nhớ bạn ngẩn ngơ  ngơ ngẩn sầu
Biết đến bao giờ ta gặp lại
Như ngày xưa ấy thuở xanh đầu !...

  PHAN THỊ THANH MINH
, Hà Nội


Họa 5:

Vĩnh Hoàng
    


 NHỚ THƯƠNG

 
Người đã đi xa, xa tít đâu 
Để ta mòn mỏi, trắng canh thâu
Cam Ly, ly cách, ngăn dòng thảm
Tình Ái, ái ân, lạnh gối sầu
Nhìn bóng Hương Giang, vàng nỗi nhớ
Trông đồi Đỉnh Ngự, tím lòng đau
Trời Tây ngoảnh lại, xa xuôi quá
Chớ ngại trùng khơi, sóng bạc đầu.
                 Vĩnh Hoàng, BR_ VT  
 
Họa 6:
 

 Lê Bá Lộc        

 HẸN  ƯỚC

Hẹn ước mà chi chẳng tới đâu

Thương yêu quằn quại suốt canh thâu

Trăng soi ngõ trúc khơi niềm nhớ

Gió réo vườn cau gợi giọt sầu

Một thuở xa rồi hương dấu ái

Hai đường cách biệt  cuộc tình đau

Em đem gío bụi cài lên tóc
Để tháng ngày mong bạc mái đầu .
                                     Lê Bá Lộc- USA

Họa 7:
Trần Văn Hạng

 

NHỚ

 
Góc bể chân trời em ở đâu ?
Nhớ thương thao thức suốt canh thâu
Đêm đông ngóng đợi lòng đau thắt
Ngày hạ chờ mong dạ tủi sầu
Ngồi ngắm Chợ Phiên  phiên chợ vắng
Luống trông Thành Cổ  cổ thành đau
Cuộc đời dâu bể  tang thương quá
Chưa chín nồi kê đã bạc đầu!...

              Trần Văn Hạng,
Đông Hà

Họa 8:

HỒ TRỌNG TRÍ
           
 
NHỚ CAO NGUYÊN.
 


Đà Lạt nghĩa tình chẳng lạt đâu!
Người ơi, nhung nhớ suốt canh thâu!
Xuân Hương lưu luyến hương xuân muộn
Than Thở thở than dạ khúc sầu.
Thổ mộ ngân vang nghe ảo não
Ngàn thông réo rắt chạnh niềm đau.
Nỗi buồn vời vợi cao cao ngút
Ngấn bụi thời gian   trắng mái đầu.

                  HỒ TRỌNG TRÍ
       
Kim Long,Châu Đức, BRVT    


Họa 9
:
       

Lê Văn Thanh                 


 CẢM HOÀI            
  (Bằng trắc nguyên vận)                            

               

                Đi rồi!...  Em đã đi về đâu

                Để lại trần gian vạn nốt sầu!

                Nuốt lệ ngỡ đau trăng thổn thức

                Ngăn lòng tưởng tiếc trắng canh thâu

                Bốn phương trời đất  đất trời nhớ

                Muôn dặm hải hồ  hồ hải đau

                Tình vẫn yêu càng yêu  lắm lắm 

                Tóc xanh sương bạc muối tiêu đầu!
                                   Lê Văn Thanh, BR- VT                                   
  
Họa 10:

     HỒ HẮC HẢI          

   HOÀI CẢM
 



   Bất ngờ em nở bỏ đi đâu
   Đau thắt tâm can  những mối sầu!


                   Nhìn ngọn hải đăng khơi nỗi nhớ


                   Ngó cơn  sóng dữ   gợi  buồn đau


                   Đêm khuya thao thức tâm dằn vặt


                   Sáng dậy ngẩn ngơ tóc bạc đầu


                   Khắc khoải  tiếc thương tình cách biệt


                   Ngày ngày tháng tháng trắng đêm thâu


                    HỒ HẮC HẢI
                  
Quận 8 - TP. Hồ Chí Minh

Họa 11:
Lê Trường Hưởng  
 
 
 ĐẾN BẠC ĐẦU!
 


Em đã đi rồi đến tận
đâu ?
Để anh thao thức suốt canh thâu
Lòng dâng dâng ngập niềm thương nhớ
Dạ đắm đắm sâu nỗi hận sầu
Hồng Lĩnh lĩnh bao điều nuối tiếc
Lam Giang giang lắm chuyện buồn đau
Tình yêu chung thủy yêu chung thủy
Còn giữ vẹn nguyên đến bạc đầu! 

Lê Trường Hưởng
 


Họa 12:
Nguyễn Thanh Bá

KỶ  NIỆM  ĐẦU


Gĩa biệt nhau rồi người ở đâu ?
Để buồn gối lẻ thức canh thâu
Đường hoang màu nắng chừng phai nhạt
Vườn lạnh sắc hoa cũng héo sầu
Nhìn thác Ba Lòng lòng quạnh quẽ
Ngắm trăng Vỹ Dạ dạ buồn đau
Chiều nương cánh nhạn mờ sương núi
Vương đọng trong ta kỷ niệm đầu .
                   Nguyễn Thanh Bá

Họa 13:
 Nguyễn Thanh Xuân

                   Quê xưa


Quê kiểng tôi nghèo ai biết đâu
Chăn đơn gió thốc trắng canh  thâu
Gió lùa cháy mặt kêu chi khổ
Nước đạp treo chân biết mấy sầu
Lúa lũ cuốn trôi, trôi quá xót
Người tràn theo vớt, vớt thêm đau
Âm thầm chịu đựng đời cơ cực
Từ lúc trẻ thơ đến bạc đầu.
                                            Mùa lũ  2012
                                      Nguyễn Thanh Xuân, Hà Nội
Họa 14:
Thanh Dạ

NHỚ CỐ NHÂN

Ngày cũ bây giờ ở chốn đâu

Ta tìm trong mộng suốt canh thâu

Người ơi, thuở ấy đêm không ngủ

Bạn hỡi ngày xưa dạ đượm sầu

Chờ mỏi mòn hoài càng thấm khổ

Ngóng vô vọng mãi lại thêm đau

Hễ còn xa cách còn mong đợi

Nỗi nhớ như sương nhuộm mái đầu

 T.D

Làng Hóp   03h00’  09-10-2012 

Họa 15:
Nguyễn Thanh Xuân 
Chờng(1) cưới                                                                                      
          (Họa mượn vận bằng từ cổ Quảng Trị)

Ơi eng(2) thợ mộc dờ(3) eng đâu(4)
Chờng cưới tui (5) ưng đục mộộng(6) thâu
Khít rịt, trơn tru, rờ(7) mới sướng
Hở hang, dam dở(8) ngó thêm sầu
Lắp thang cứng, cứng ngồi khôông(9) lọi(10)
Trãi vạt(11) êm, êm nằm đợ(12) đau
Dún(13) thử mà nghe kêu trẹo tréc
Coi dư(14) chưa! Mần(15) lại từ đẩu.
           Nguyễn Thanh Xuân

Chú thích: Từ cổ Quảng Trị:
1, Giường;    2, Anh;      3, Nhờ     4, Làm, đóng     5, Tôi    6, Mộng   7,Sờ,  8, Nham nhở     9, Không    10, Gãy   11, Giát giường  12, Đỡ    13, Nhún;     14, Như    15,

Họa 16: 
 Tạ Anh Ngôi

 BIỆT LY 

 

Người đã bỏ đi mãi tận đâu

Để ta thương nhớ suốt canh thâu

Đêm tàn sương lạnh thêm thao thức

Trăng khuyết gió lay gợi cảm sầu

Lên núi Đá Chồng chồng đá nhớ

Ra hồ Than Thở thở than đau

Bao nhiêu nước mắt buồn ly biệt

 Chờ đợi  hoài mong bạc mái đầu!
Nhân Hưng, 5h ngày 11-10-2012
 Tạ Anh Ngôi
Họa 17:
Trần Ngộ 

 Thủy chung



Kẻ đó người đây xa cách đâu
Mà sao vương vấn mãi ngàn thâu
Trăng treo sương tối làm hoa tủi
Gio gác mưa khuya khiến nụ sầu
Ngắm bóng mây bay bay nỗi nhớ
Trông màu tuyết phủ phủ niềm đau
Chao ôi! thương quá... ôi! thương quá
Ươc nguyện cùng anh tới bạc đầu
Trần Ngộ 
bảo lộc lâm đồng

Họa 18:
 Lê Chí Phóng 

 CẢM HOÀI  

  
Đừng hỏi cách ly bởi tại đâu?
Để rồi trằn trọc suốt canh thâu
Bao đêm dài thở than than thở
Những tháng ròng sầu thảm thảm sầu
Lại lắm xót thương thương lại xót
Càng thêm suy nghĩ nghĩ càng đau
Tại anh tại ả nên suy thoái
Rối rắm ăn năn đến bạc đầu
Lê Chí Phóng
câu nhi . hải tân . hải lăng . quảng trị
   

 Họa 19:
 Lê Đăng Mành

YÊU MÃI!
 

Đã đi có biết chắc về đâu ?

Người ở sầu dâng lòng chạnh thâu

Vời vợi buồn thương lên xót cảm

Bời bời tiếc nuối nhói cung sầu

Nghìn trùng xa cách, cách nhung nhớ

Muôn dặm ngăn chia, chia nỗi đau

Dâu bể  dòng đời tan tác quá

Thì yêu hơn thuở gặp ban đầu…!

                                       Lê Đăng Mành
                                    Hải Lăng, Quảng Trị
 Họa 20:
LÊ GIAO VĂN .

NỖI LÒNG NGƯỜI ĐÀ LẠT


Đà lạt sương mờ đến tận đâu !

Mà sông Seine cuộn sóng canh thâu

Hồ chưa lắng xuống niềm tâm sự

Thông vội trườn cao mấy tán sầu

Hoa lũng “Tình Yêu”  vừa chớm nở

Trăng lầu “Mộng Đẹp”  rướm niềm đau

Người đi xa biệt chân mây trắng

Phố lạnh  riêng ai tuyết nhuộm đầu.

                                 LGV

 Họa 21:
Nguyễn Tường
             
NHỚ MONG ĐÀ LẠT
 

Chưa dễ gì quên Đà Lạt đâu,
Từng ngày mong nhớ tựa ba thâu(*)
Kìa chiều sương xuống thông rung nhớ,
Nọ sáng mây lên suối chảy sầu.
Nhớ sắc Cúc Vàng vàng nuối tiếc,
Thương màu Phượng Tím tím hờn đau.
Ngày về mong quá mong mong quá,
Cho dẫu thời gian bạc mái đầu.

Nguyễn Tường, NY May 31, 2012

(*) thâu : mùa thứ ba, sau mùa hạ, trước mùa đông.
Nghĩa rộng : Năm.
Một ngày đằng đẵng xem bằng ba thâu.
 ( Chú thích của TG )

BA PHI - NGHỆ NHÂN NÓI DÓC NỔI TIẾNG

Bác Ba Phi - nghệ nhân nói dóc nổi tiếng miền Tây

Ông gắn liền với những mẩu chuyện cười đơn sơ, mộc mạc của đồng bưng, sản vật rừng U Minh.
Qua khỏi trung tâm xã Khánh Hải, huyện Đầm Dơi (Cà Mau) gần 5 km, cuối con đường nhựa ở ấp Lung Tràm là nơi cố nghệ nhân dân gian Nguyễn Long Phi (bác Ba Phi) sinh sống đến cuối đời. Dân miền Tây không xa lạ với bác Ba Phi bởi ông là nhân vật trong văn học dân gian gắn liền với những mẩu chuyện cười đơn sơ, mộc mạc gắn với đồng bưng, sản vật rừng U Minh.
Căn nhà vách tôn nền đất này là nơi thờ nghệ nhân Ba Phi nhưng thường xuyên đóng cửa. Ảnh: Lin Ca
Tại hội thảo quốc tế về chuyện cười dân gian Ba Phi được Bộ Văn hóa - Thông tin tổ chức 10 năm trước, các nhà nghiên cứu đều cho rằng giá trị nghệ thuật của truyện cười Ba Phi mang đậm phong vị của làng quê Nam Bộ. Tiếng cười sảng khoái vui tươi, gắn chặt với đồng ruộng, chim thú, cây rừng; không châm chọc, đả kích các tầng lớp thống trị, nhưng giá trị nghệ thuật cao.
Cụ thể như chuyện rắn tát đìa bắt cá, chọi đá làm máy bay rơi, leo cây ớt té gãy chân, le le tập thể dục, cọp vào nhà ăn gia súc nên chủ nghĩ kế bắt chúa sơn lâm xay lúa, tàu rùa chạy nhanh như tàu máy, rắn hổ mây tát nước khô cả đìa cá, lúa nở dưới nước, nếp dẻo đến mức treo được con chó trên xiên nhà, chim chóc bay rần rần che mát cả góc trời, cá rô ăn xoài nhiều nên nấu canh chua không cần dầm me hay chuột vừa chắp tay sau đít vừa hứng lúa... Chuyện kể của bác Ba Phi về sản vật ở Lung Tràm hay vùng rừng U Minh cái gì cũng to lớn, vĩ đại.
Cảnh nghèo của con cháu bác Ba Phi
Hiện nay tại ấp Lung Tràm nơi Ba Phi lập nghiệp có 3 căn nhà lá đơn sơ, phía sau là mộ nghệ nhân với hai người vợ Trần Thị Lữ và Lữ Thị Cham (Cà Cham). Mộ của người vợ thứ 3, cũng là mẹ của ông Hải không có ở Lung Tràm vì sinh con được 3 năm, bà bỏ Ba Phi về quê Mỹ Tho (Tiền Giang).
Cha mẹ ông Phi ở Đồng Tháp Mười, bỏ xứ xuống vùng cực Nam Tổ quốc mưu sinh vào những năm 1880. Năm 1884, Nguyễn Long Phi sinh ra tại Rạch Mũi của huyện Cái Nước (Cà Mau). Mồ côi cha năm 15 tuổi, ông gánh vác mọi chuyện trong gia đình vì là con cả trong gia đình 5 anh em. Ở tuổi “bẻ gãy sừng trâu”, Phi cao lớn, có sức mạnh hơn trai tráng trong vùng. Khi ấy gia đình cơ cực, ngày đi khẩn hoang tìm miếng cơm manh áo nhưng đêm đến ông tham gia đờn ca vui vẻ với hàng xóm, được mọi người quý mến bởi tính tình vui vẻ, khẳng khái và hay kể chuyện làm lôi cuốn người nghe.
Di ảnh bác Ba Phi và đường vào khu mộ của ông. Ảnh: Lin Ca
Thấy Phi khỏe mạnh, thật thà nên Hương quản Tế giàu nhất vùng nhận vào làm công rồi gả ái nữ Trần Thị Lữ kém ông 6 tuổi. Tá điền gọi bà là Ba Lữ nên từ đó về sau mọi người gọi Phi bằng Ba Phi theo thứ của vợ. Thương rể siêng năng, cha vợ cắt đất cho Ba Phi đến 500 mẫu. Tương truyền khu đất ấy rộng từ ngã ba đường vào xã Khánh Hải chạy dài qua khỏi Lung Tràm. Sau đó ông hiến lại cho chính quyền, chừa hơn 50 ha cho con cháu canh tác đến tận bây giờ.
Sống với vợ cả không có con, đêm đêm Ba Phi kéo đờn não ruột. Sợ ông buồn, bà Lữ bàn cách cưới vợ cho chồng. Lúc đầu Ba Phi không đồng ý nhưng vợ nhiều lần nài nỉ nên ông đồng ý sống với cô gái Khmer. Ở được vài năm, Cà Cham sinh cho Ba Phi 3 người con gái rồi bệnh mất ở tuổi 24. Chiến tranh loạn lạc, Ba Phi mất đi hai đứa con gái, người còn lại đang sống ở huyện Trần Văn Thời.
Đối với con trai Nguyễn Tứ Hải, mẹ ông này gặp Ba Phi rồi mang bầu trong những lần Hương quản Tế cho rể chở cá bán cho vựa ở Mỹ Tho. Ông Hải có 5 người con, vợ là bà Nguyễn Thị Anh (81 tuổi) sống một mình vì mâu thuẫn với con gái lớn độc thân là bà Nguyễn Thị Dung.
Theo bà Dung, trước khi mất, cha bà đã chia đất đầy đủ cho 2 con gái, 3 con trai và mọi người đều có sổ đỏ. Khi Nhà nước đầu tư vào Lung Tràm, lên phương án xây nhà tưởng niệm bác Ba Phi thì mẹ bà xảy ra xung đột với các con vì nghe theo lời con gái thứ tư. Giận mẹ, bà Dung dựng nhà lá ở riêng, bán nước uống cho khách lỡ đường nhưng quán ế ẩm nên đóng cửa.
Cháu nội bác Ba Phi kể về cảnh nghèo và chuyện tranh chấp đất đai của gia đình. Ảnh: Lin Ca
Không qua lại với con gái lớn, bà Anh thường xuyên khóa cửa nhà đi đâu không ai rõ. Trong căn nhà vách tôn nền đất thờ Ba Phi với hai người vợ, di ảnh nghệ nhân đã bị gia chủ giấu mất.
"Chính quyền vận động mẹ mang di ảnh ông nội đặt lên bàn thờ nhưng không được. Mẹ tranh chấp đất với các con, tòa đã có phán quyết nhưng mẹ tiếp tục khiếu nại", bà Dung cho biết.
Chủ tịch UBND xã Khánh Hải Trần Triều Tiên khẳng định nguyên nhân chậm tiến độ xây dựng khu tưởng niệm bác Ba Phi là do gia đình bà Anh chưa giải quyết xong tranh chấp đất.
"Đường được trải nhựa đến nhà bác Ba Phi cho thấy Nhà nước rất quan tâm đến dự án mang ý nghĩa văn hóa của vùng. Đúng ra công trình xây dựng cùng lúc với khu tưởng niệm cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu ở Bạc Liêu nhưng vì gia đình tranh chấp đất nên chưa biết bao giờ khởi công", ông Tiên cho biết thêm.
Lin Ca

CHUYỆN BUỒN CỦA GIA ĐÌNH BÁC BA-PHI

Chuyện buồn của gia đình bác Ba Phi

 

 

Sau nhiều năm lên kế hoạch xây dựng khu tưởng niệm bác Ba Phi, người nói dóc nổi tiếng miền Tây, cơ quan chức năng vẫn chưa thực hiện được do con cháu của ông chưa giải quyết xong tranh chấp đất.
Thửa đất cỏ mọc um tùm cạnh nhà bà Nguyễn Thị Anh là nơi bác Ba Phi cất nhà ở cùng con cháu đến cuối đời (hưởng thọ 80 tuổi). Căn nhà này có bàn thờ nghệ nhân dân gian nhưng di ảnh Ba Phi được chủ nhân gỡ xuống và thường xuyên khóa cửa ngoài. Ảnh: Duy Khang
Qua khỏi trung tâm xã Khánh Hải (Đầm Dơi, Cà Mau) gần 5 km, cuối con đường nhựa ở ấp Lung Tràm là nơi cố nghệ nhân dân gian Nguyễn Long Phi (bác Ba Phi) sinh sống đến cuối đời. Dân miền Tây không xa lạ với bác Ba Phi bởi ông là nhân vật trong văn học dân gian gắn liền với những mẩu chuyện cười mộc mạc.
Sinh năm 1884, đến tuổi "bẻ gãy sừng trâu", Phi cao lớn hơn người. Khi ấy gia đình cơ cực, ngày khẩn hoang tìm miếng cơm manh áo nhưng đêm đến ông tham gia đờn ca vui vẻ với hàng xóm. Ông được mọi người quý mến bởi tính tình vui vẻ, khảng khái và đặc biệt là luôn kể chuyện dí dỏm lôi cuốn người nghe.
Thấy Phi khỏe mạnh, thật thà nên Hương quản Tế giàu nhất vùng nhận vào làm công rồi gã ái nữ Trần Thị Lữ kém ông 6 tuổi. Tá điền gọi bà là Ba Lữ nên từ đó về sau mọi người gọi Phi bằng Ba Phi theo thứ của vợ. Thương rể siêng năng, cha vợ cắt đất cho Ba Phi đến 500 mẫu. Sau đó ông hiến lại cho chính quyền, chừa hơn 50 ha cho con cháu canh tác.
Bà Dung là cháu nội lớn nhất của bác Ba Phi. Ở tuổi 58, bà sống độc thân và cất nhà ở riêng vì tranh chấp đất với mẹ. Bà cho rằng nếu gia đình không mâu thuẫn nhau thì khu tưởng niệm bác Ba Phi đã được xây dựng. Ảnh: Duy Khang
Sống với vợ cả không có con, đêm đêm Ba Phi kéo đờn não ruột. Sợ ông buồn, bà Lữ bàn cách cưới vợ cho chồng. Lúc đầu Ba Phi không đồng ý nhưng vợ nhiều lần nài nỉ nên ông đồng ý ở với cô gái Khmer. Vài năm sau, Cà Cham sinh cho Ba Phi 3 người con gái rồi bệnh mất khi mới 24 tuổi. Chiến tranh loạn lạc, Ba Phi mất đi hai con gái, người còn lại đang sống ở huyện Trần Văn Thời.
Đối với con trai đích tôn Nguyễn Tứ Hải, mẹ ông này gặp Ba Phi rồi mang bầu trong những lần Hương quản Tế cho rể chở cá bán tận Mỹ Tho. Ông Hải có 5 người con, vợ là bà Nguyễn Thị Anh (81 tuổi) sống một mình vì mâu thuẫn với con gái lớn Nguyễn Thị Dung.
Theo bà Dung, trước khi mất cha bà đã chia đất đầy đủ cho 2 con gái, 3 con trai và mọi người đều có sổ đỏ. Khi Nhà nước đầu tư lộ nhựa vào Lung Tràm, lên phương án xây khu tưởng niệm bác Ba Phi thì mẹ bà xung đột với các con. Giận mẹ, bà Dung dựng nhà lá ở riêng.
Không qua lại với con gái lớn, bà Anh thường xuyên khóa cửa nhà đi đâu không ai rõ. Trong căn nhà vách tôn nền đất thờ Ba Phi với hai người vợ, di ảnh nghệ nhân có tài kể chuyện cường điệu gắn với đồng bưng miệt rừng U Minh đã bị gia chủ giấu mất. "Chính quyền vận động mẹ mang di ảnh ông nội đặt lên bàn thờ nhưng không được. Mẹ tranh chấp đất với các con, tòa đã có phán quyết nhưng mẹ tiếp tục khiếu kiện", bà Dung cho biết.
Đường vào khu mộ bác Ba Phi với 2 người vợ. Ảnh: Duy Khang
Trao đổi với VnExpress.net, Chủ tịch UBND xã Khánh Hải Trần Triều Tiên khẳng định nguyên nhân chậm tiến độ xây dựng khu tưởng niệm bác Ba Phi là do gia đình bà Anh chưa giải quyết xong tranh chấp đất. "Đường được trải nhựa đến nhà bác Ba Phi cho thấy Nhà nước rất quan tâm đến dự án mang ý nghĩa văn hóa của vùng. Đúng ra công trình xây dựng cùng lúc với khu tưởng niệm cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu ở Bạc Liêu nhưng vì gia đình bà Anh tranh chấp đất nên chưa biết bao giờ khởi công được", ông Tiên cho biết thêm.
Tại hội thảo quốc tế về truyện cười dân gian Ba Phi được Bộ Văn hóa Thông tin tổ chức 10 năm trước, các nhà nghiên cứu đều cho rằng truyện cười Ba Phi mang đậm phong vị của làng quê Nam Bộ. Tiếng cười sảng khoái vui tươi, gắn chặt với đồng ruộng, chim thú, cây rừng, có giá trị nghệ thuật cao.
Ví dụ chuyện rắn tát đìa bắt cá, chọi đá làm máy bay rơi, leo cây ớt té gãy chân, le le tập thể dục, tàu rùa chạy nhanh như tàu máy, rắn hổ mây tát nước khô cả đìa cá, lúa nở dưới nước, nếp dẻo đến mức treo được con chó trên xiên nhà, chim chóc bay rần rần che mát cả góc trời, cá rô ăn xoài nhiều nên nấu canh chua không cần dầm me hay chuột vừa chắp tay sau đít vừa hứng lúa...
Năm 2003, Ba Phi được Nhà nước truy tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian và tỉnh Cà Mau đã đầu tư dự án xây dựng khu tưởng niệm ông.
Duy Khang