Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012


Những tổng thống Mỹ giàu có nhất trong lịch sử
(Dân trí) - Dưới đây là danh sách 10 vị tổng thống Mỹ giàu có nhất do tạp chí 24/7 Wall St. bình chọn dựa trên số liệu tài sản bao gồm đất đai, các khoản thừa kế, lương bổng…
Sau nhiều đồn đoán, mới đây ứng cử viên đảng Cộng Hòa Mitt Romney đã khẳng định sẽ bỏ ra 1 triệu hoặc nhiều hơn trong số tài sản khoảng 200 triệu USD cho chiến dịch tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ tới. Nếu thắng cử, chắc chắn Mitt Romney sẽ có mặt trong danh sách 10 tổng thống giàu có nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Ngoài Mitt Romney, các ứng viên thuộc đảng cộng hòa của cũng được biết đến rất giàu có. Điển hình là Ron Paul, tài sản của ông này ước tính có từ 2,5 - 5 triệu USD nhờ vào việc xuất bản một số cuốn sách bán chạy nhất trong vòng vài năm trở lại đây.

Cựu phát ngôn viên Nhà trắng, ông Newt Gingrich cũng là nhân vật giàu có trong giới chính trị gia Mỹ. Nhờ công việc là tư vấn, phân tích tài chính mà ông đã gây dựng nên sự nghiệp ước tính lên tới 35 triệu USD.

Tuy nhiên, trở lại những nhiệm kỳ trước đó, tài sản của các vị tống thống đều đến từ nhiều nguồn khác nhau. Một số là do thừa hưởng khối tài sản kếch xù từ cha mẹ, một số là do tự kiếm được nhờ kinh doanh đất đai, dầu mỏ. Nhìn chung, vận may về tiền bạc đối với từng tổng thống là khác nhau bởi gắn với từng thời kỳ kinh tế, điều kiện kinh tế khác nhau.

Dưới đây là danh sách 10 vị tổng thống Mỹ giàu có nhất do tạp chí 24/7 Wall St. bình chọn dựa trên số liệu tài sản bao gồm đất đai, các khoản thừa kế, lương bổng…

10. John Fitzgerald Kennedy

Tổng tài sản: 1 tỷ USD
Nhiệm kỳ: 1961- 1963
Tổng thống thứ: 35

 
Kennedy là một người may mắn. Không chỉ ông, mà cả vợ đều được hưởng khối tài sản khổng lồ từ gia đình. Cha đẻ của Kennedy vốn được biết đến là người đàn ông giàu có nhất nước Mỹ thời bấy giờ, ông cũng chính là vị chủ tịch đầu tiên của công ty SEC.

Khối tài sản khổng lồ lên đến 1 tỷ USD hầu hết nằm ở số cổ phần trong công ty SEC mà ông cùng các thành viên khác trong gia đình nắm giữ. Tuy vậy, nhiều người cho rằng số tiền 1 tỷ USD đã bị thổi phồng bởi gia đình ông có tới 9 anh em.

9. William Jefferson Clinton

Tổng tài sản: 38 triệu USD
Nhiệm kỳ: 1993 - 2001
Tổng thống thứ: 42

Clinton là vị tổng thống đặc biệt. Ông không xuất thân từ gia đình giàu có, chính vì thế, để tạo nên khối tài sản 38 triệu USD, ông phải tự lăn lộn kiếm được trong suốt 20 năm. Sau khi kết thúc nhiệm kỳ tại Nhà trắng, ông vẫn có được mức thu nhập đáng ngưỡng mộ nhờ vào công việc như viết sách hay diễn thuyết. Thành công nhất phải kể đến là cuốn tự truyện cuộc đời mà ông vừa cho xuất bản. Ngoài ra, người vợ hiện tại của ông, Bộ trưởng ngoại giao Mỹ cũng được biết đến là một phụ nữ rất tài năng và giàu có.

8. Franklin Delano Roosevelt

Tổng tài sản: 60 triệu USD
Nhiệm kỳ: 1933 - 1945
Tổng thống thứ: 32

Franklin Roosevelt được hưởng quyền thừa kế từ gia tộc giàu có giống như người anh họ 5 đời Theodore Roosevelt. Ông lớn lên trong sự giàu sang và theo học ở những trường nổi tiếng. Tòa biệt thự đắt giá của Franklin Roosevelt ở Hyde Park, New York, thực ra thuộc quyền sở hữu của mẹ ông cho tới khi bà qua đời vào năm 1941.

7. Herbert Clark Hoover

Tổng tài sản: 75 triệu USD
Nhiệm kỳ: 1929 - 1933
Tổng thống thứ: 31

Mồ côi từ nhỏ, tổng thống Hoover đã được nuôi dưỡng bởi một người bác họ. Với nghị lực phi thường, ông vươn lên, làm chủ tịch một công ty khai thác mỏ và có cổ phần tại hàng loạt các công ty khai khoáng. Với gia sản đó, trong suốt quá trình làm tổng thống, ông đã dành toàn bộ số tiền lương để làm từ thiện. Gia sản của ông được biết đến nổi bật nhất là dinh thự mang tên ông tại bang California.

6. Lyndon Baines Johnson

Tổng tài sản: 98 triệu USD
Nhiệm kỳ: 1963 - 1969
Tổng thống thứ: 36

Vốn sinh ra trong một gia đình khá giả, nhưng, do sai lầm của người cha đã khiến gia sản cả nhà tiêu tan hết khi Johnson còn nhỏ. Quá trình lớn lên, ông đã tự tạo nên cơ nghiệp với hơn 600 ha đất tại bang Texas. Ngoài ra, ông và vợ cũng sở hữu một đài truyền hình ở Autin, một số trang trại và máy bay riêng.

5. James Madison

Tổng tài sản: 101 triệu USD
Nhiệm kỳ: 1809 - 1817
Tổng thống thứ: 4

Từng được biết đến là chủ đất lớn nhất tại bang Virginia với khoảng hơn 2.000 ha đất trong tay. Tuy nhiên, khối tài sản lên đến hơn 100 triệu USD của ông lại được tạo ra chủ yếu trong quá trình ông nắm giữ chức Bộ trưởng ngoại giao và Tổng thống. Quãng thời gian sau khi rời Nhà trắng, gia sản của ông bị giảm đi đáng kể do gánh nặng nợ nần.

4. Andrew Jackson

Tổng tài sản: 119 triệu USD
Nhiệm kỳ: 1829 - 1837
Tổng thống thứ: 7


Từ một người thuộc tầng lớp trung lưu ở Mỹ, Andrew Jackson đã “âm thầm” trở thành một trong những tổng thống giàu có nhất trong lịch sử nước Mỹ. Được biết, ông giàu có nhờ sử dụng thông tin nội gián để gom mua đất đai của người da đỏ. Ngoài việc là một nhà đầu cơ đất đai, ông còn là người đồng sáng lập thành phố Memphis. Ông cũng sở hữu tới 300 nô lệ, một bằng chứng về sự giàu có ở thời đó.

3. Theodore Roosevelt

Tổng tài sản: 125 triệu USD
Nhiệm kỳ: 1901 - 1909
Tổng thống thứ: 26


Sinh ra trong một gia đình nổi tiếng và giàu có ở Mỹ, Theodore Roosevelt đã sớm được thừa hưởng cuộc sống sung sướng. Tuy vậy, do một lần kinh doanh thất bại, phần lớn số tiền ông có đã “không cánh mà bay”. Từ đó, ông kiếm sống chủ yếu bằng nghề viết sách. Một số tài sản điển hình của ông là khu bất động sản có được cho là rất có giá trị tại Long Island rộng tới 95 ha.

2. Thomas Jefferson

Tổng tài sản: 212 triệu USD
Nhiệm kỳ: 1801 - 1809
Tổng thống thứ: 3


Thomas Jefferson được đánh giá là một người có trí tuệ siêu việt, ông còn may mắn được thừa hưởng khối tài sản kếch xù từ cha mẹ. Mới ở tuổi trưởng thành, ông được xem là một trong 30 người giàu có nhất bang Virginia.  Tuy nhiên, do lối sống xa hoa, sau khi mãn nhiệm, ông ngập trong nợ nần và phải sống cuộc sống của một người nghèo khổ.

1. George Washington

Tổng tài sản: 525 triệu USD
Nhiệm kỳ: 1789 - 1797
Tổng thống thứ: 1


George Washington sinh ngày 22/2/1732, là vị Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ. Là người có đầu óc kinh doanh nhạy bén, lại kết hôn với một góa phụ giàu có là bà Martha Washington, Washington đã tích lũy được một khối tài sản khổng lồ, gồm vài đồn điền rộng lớn và hơn 300 nô lệ. Do những cống hiến không ngừng nghỉ, trong nhiệm kỳ thứ 2, mức lương mà ông nhận được lên tới 2% tổng ngân sách của toàn nước Mỹ.

Lan Trinh
Theo 24/7wallst

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

 LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN
(nhân 666 năm ngày húy kỵ và khánh
thành nâng cấp đền thờ cụ - 02/3/2012)

Đẹp tựa hoa sen của đất này
Gần thiên niên kỷ ngát hương bay
Tiếng thơm liêm chính vua Nam nể
Bản lĩnh tài tình đế Bắc ngây
Trong nước làm sen nơi giếng ngọc
Ngoài biên hóa tướng mở đường mây
Cháu con mãi mãi noi gương sáng
Nâng cấp đền thiêng tưởng niệm Thầy !

Nam hồng 20-02-2012 (tức 29 giêng Nhâm thìn) T.D



4 cách "siêu rẻ" ngừa ung thư

Mỗi năm trên thế giới có khoảng 12 triệu trường hợp bị mắc các bệnh ung thư, 40% các loại bệnh ung thư trong số đó có thể tự phòng ngừa.
Dưới đây là những phương pháp ngăn ngừa ung thư rẻ tiền nhất trên thế giới:
Uống một ly rượu vang khi ăn thịt

Vỏ nho dùng để lên men sản xuất rượu vang chứa một chất có tên gọi resveratrol, có tác dụng nhất định trong việc phòng ngừa các bệnh ung thư về đường tiêu hóa.

Hiệp hội nghiên cứu ung thư Mỹ đưa ra lời khuyên rằng mỗi tuần chỉ nên ăn 500g thịt đỏ như thịt lợn, thịt bò, thịt dê. Nếu ăn nhiều hơn, nguy cơ mắc bệnh ung thư đại tràng sẽ tăng lên.
4 cách
Rượu vang giúp ngừa ung thư (Ảnh minh họa)
Tuy nhiên, một nghiên cứu mới nhất chỉ ra rằng, nếu uống một ly rượu vang khi ăn thịt sẽ có thể phòng ngừa việc thịt phân giải thành chất gây hại khi vào trong dạ dày.
Ăn ít đường

Món ăn mà các tế bào ung thư "yêu thích" chính là đường.

Trong một cuốn sách của Nhật Bản với tiêu đề "Làm thế nào để ngăn ngừa ung thư" chỉ ra rằng, khi máu chảy qua khối u, 57% đường trong máu sẽ được tiêu hao bởi các tế bào ung thư, trở thành một thành phần dinh dưỡng để nuôi tế bào ung thư.

Tạp chí The American Journal of Clinical Nutrition nêu rõ, mỗi ngày chỉ cần uống hai cốc nước có vị ngọt, nguy cơ mắc ung thư tuyến tụy sẽ cao hơn những người không uống 90%. Các chuyên gia khuyên rằng, mỗi ngày chỉ nên giới hạn ăn 50 gram đường.


Uống 4 cốc trà mỗi ngày
4 cách
Trà có công dụng tuyệt diệu (Ảnh minh họa)
Các chuyên gia Nhật Bản đã bỏ ra 9 năm để thực hiện một khảo sát và phát hiện ra rằng mỗi ngày chỉ cần uống 4, 5 cốc trà, nguy cơ mắc các bệnh ung thư sẽ giảm 40%.

Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Trung Quốc cũng đã dành thời gian 17 năm để nghiên cứu và phát hiện ra rằng trà xanh, trà hồng và trà ô long có tác dụng trong việc phòng ngừa ung thư vòm họng, ung thư phổi, ung thư gan.

Tuy nhiên, nước trà không nên quá đặc, quá nóng để tránh ảnh hưởng tới tác dụng phòng tránh ung thư.

Phơi nắng 15 phút
4 cách
(Ảnh minh họa)
Trong các phương pháp phòng tránh ung thư rẻ tiền thì phơi nắng chính là phương pháp rẻ tiền nhất, thậm chí không tốn bất cứ chi phí nào. Khi phơi nắng cơ thể sẽ được hấp thụ Vitamin D, giúp phòng ngừa ung thư.
Khi lượng Vitamin D trong cơ thể không đủ, nguy cơ mắc bệnh ung thư vú, ung thư đại tràng, ung thư tuyến tiền liệt sẽ tăng lên. Tuy nhiên để đề phòng nguy cơ mắc ung thư da, mỗi ngày chỉ nên phơi nắng 15 phút.

MẠC ĐĨNH CHI - TƯ LIỆU



Tổng số bài gửi: 10578
Registration date: 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Ngọc tỉnh liên phú - Mạc Đĩnh Chi   Fri 12 Feb 2010, 19:52

Ngọc tỉnh liên phú - Mạc Đĩnh Chi (1304)

"Ngọc tỉnh liên" là "Hoa sen trong giếng ngọc". Đây là bài phú của Mạc Đĩnh Chi.
Ông đỗ Trạng nguyên, khi vào bái yết nhà vua, Trần Anh Tông thấy hình dung ông xấu xí quá, không muốn cho đỗ. Ông liền làm bài phú "Ngọc tỉnh liên" để tự ví mình. Vì hoa sen vốn có tiết tháo thanh cao, không hoa nào sánh được, tuy gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn; vả lại sen này lại trồng trong giếng ngọc nữa thì sen càng cao quý biết bao. Ông như sen, dù có phải ở vào hoàn cảnh ô trọc thế nào thì cũng vẫn giữ khí tiết thanh cao, huống chi ở phải vào một thời tốt đẹp, vua minh chánh thì người ông càng cao quý biết mấy. Sen quý nhưng phải có người sành mới biết thưởng thức.

Vua đọc bài phú của ông cho là kiệt tác nên mới yêu dùng.


玉井蓮賦 - Ngọc tỉnh liên phú



客有:

隱几高齋,夏日正午。
臨碧水之清池,詠芙蓉之樂府。

忽有人焉:

野其服,黃其冠。
迥出塵之仙骨,凜辟穀之臞顏。
問之何來,曰從華山。
迺授之几,迺使之坐。
破東陵之瓜,薦瑤池之果,
載言之琅,載笑之瑳。

既而目客曰:

子非愛蓮之君子耶!
我有異種,藏之袖間。
非桃李之粗俗,非梅竹之孤寒。
非僧房之枸杞,非洛土之牡丹。
非陶令東籬之菊,非靈均九畹之蘭。
乃泰華山頭玉井之蓮。

客曰:

異哉!豈所謂藕如船兮花十丈,冷如霜兮甘比蜜者耶!
昔聞其名,今得其實。
道士欣然,乃袖中出。
客一見之,心中鬱鬱。
乃拂十樣之牋,泚五色之筆。

以而歌曰:

架水晶兮為宮,
鑿琉璃兮為戶。
碎玻璃兮為泥,
洒明珠兮為露,
香馥郁兮層霄,
帝聞風兮女慕。
桂子冷兮無香,
素娥紛兮女妒。
採瑤草兮芳州,
望美人兮湘浦。
蹇何為兮中流,
盍將返兮故宇。
豈護落兮無容,
嘆嬋娟兮多誤。
苟予柄之不阿,
果何傷兮風雨。
恐芳紅兮搖落,
美人來兮歲暮。

道士聞而嘆曰:

子何為哀且怨也!
讀不見鳳凰池上之紫薇,白玉堂前之紅藥!
敻地位之清高,藹聲名之昭灼。
彼皆見貴於聖明之朝,子獨何之乎騷人之國!

於是有感其言,起敬起慕。
哦誠齋亭上之詩,庚昌黎峰頭之句。
叫閶闔以披心,敬獻玉井蓮之賦。
Khách hữu:

Ẩn kỷ cao trai, hạ nhật chính ngọ.
Lâm bích thuỷ chi thanh trì, vịnh phù dung chi Nhạc phủ.

Hốt hữu nhân yên:

Dã kỳ phục, hoàng kỳ quan.
Huýnh xuất trần chi tiên cốt, lẫm tích cốc chi cù nhan.
Vấn chi hà lai, viết tòng Hoa San.
Nãi thụ chi kỷ, nãi sử chi toạ.
Phá Đông Lăng chi qua, trãi Dao Trì chi quả,
Tái ngôn chi lang, tái tiếu chi tha.

Ký nhi mục khách viết:

Tử phi ái liên chi quân tử gia!
Ngã hữu dị chủng, tàng chi tụ gian.
Phi đào lý chi thô tục, phi mai trúc chi cô hàn.
Phi tăng phòng chi cẩu kỷ, phi Lạc thổ chi mẫu đan.
Phi Đào lệnh đông ly chi cúc, phi Linh quân cửu uyển chi lan.
Nãi Thái Hoa san đầu ngọc tỉnh chi liên.

Khách viết:

Dị tai! Khởi sở vị ngẫu như thuyền hề hoa thập trượng, lãnh như sương hề cam tỷ mật giả gia!
Tích văn kỳ danh, kim đắc kỳ thực.
Đạo sĩ hân nhiên, nãi tụ trung xuất.
Khách nhất kiến chi, tâm trung uất uất.
Nãi phất thập dạng chi tiên, thử ngũ sắc chi bút.

Dĩ nhi ca viết:

Giá thuỷ tinh hề vi cung,
Tạc lưu ly hề vi hộ.
Toái pha ly hề vi nê,
Sái minh châu hề vi lộ,
Hương phức uất hề tằng tiêu,
Đế văn phong hề nữ mộ.
Quế tử lãnh hề vô hương,
Tố Nga phân hề nữ đố.
Thái dao thảo hề Phương châu,
Vọng mỹ nhân hề Tương phố.
Kiển hà vi hề trung lưu,
Hạp tương phản hề cố vũ.
Khởi hộ lạc hề vô dung,
Thán thiền quyên hề đa ngộ.
Cẩu dư bính chi bất a,
Quả hà thương hề phong vũ.
Khủng phương hồng hề dao lạc,
Mỹ nhân lai hề tuế mộ.

Đạo sĩ văn nhi thán viết:

Tử hà vi ai thả oán dã.
Độc bất kiến Phượng Hoàng trì thượng chi tử vi, Bạch Ngọc đường tiền chi hồng dược!
Quýnh địa vị chi thanh cao, ái thanh danh chi chiêu chước.
Bỉ giai kiến quý ư thánh minh chi triều, tử độc hà chi hồ tao nhân chi quốc!

Ư thị hữu cảm kỳ ngôn, khởi kính khởi mộ.
Nga Thành Trai đình thượng chi thi, canh Xương Lê phong đầu chi cú.
Khiếu xương hạp dĩ phi tâm, kính hiến "Ngọc tỉnh liên" chi phú.
Về Đầu Trang Go down
Shiroi



Tổng số bài gửi: 10578
Registration date: 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Ngọc tỉnh liên phú - Mạc Đĩnh Chi   Fri 12 Feb 2010, 20:02

Phú sen trong giếng (bản dịch của Phan Võ)

Khách có kẻ:
Nhà cao tựa ghế; trưa hạ nắng nồng.
Ao trong ngắm làn nước biếc; Nhạc phủ vịnh khúc phù dung.

Chợt có người:
Mặc áo quê; đội mũ vàng.
Tiên phong đạo cốt; khác xa trần gian.
Hỏi "Ở đâu lại", rằng "Từ Hoa San".
Bèn bắc ghế; bèn mời ngồi.
Dưa Đông Lăng đem cắt; quả Dao trì đem mời.
Bèn sang sảng nói, bèn ha hả cười.

Đoạn rồi, trông khách mà rằng:
Anh cũng là người quân tử ưa hoa sen đó chăng?
Ta có giống lạ trong ống áo này.
Chẳng phải như đào trần lý tục; chẳng phải như trúc cỗi mai gầy.
Câu kỷ phòng tăng khó sánh; mẫu đơn đất Lạc nào tầy.
Giậu Đào Lệnh cúc sao ví được; vườn Linh Quân lan khó sánh thay!
Ấy là giống sen giếng ngọc ở đầu núi Thái hoa đây.

Khách rằng:
Lạ thay! Có phải người xưa từng bảo: "Ngó như thuyền mà hoa mười trượng, lạnh như sương mà ngọt như mật" đó ư ?
Trước vẫn nghe tiếng, nay mới thấy thật.
Đạo sĩ lòng vui hớn hở, lấy trong ống áo trưng bày.
Khách vừa trông thấy; lòng ngậm ngùi thay.
Giấy mười thức xếp sẵn; bút năm sắc thấm ngay.

Làm bài ca rằng:
Thủy tinh gác để làm cung
Cửa ngoài lóng lánh bao vòng lưu li
Bùn thời tán bột pha lê,
Hạt trai làm móc dầm dề tưới cây,
Mùi hương thơm ngát tầng mây,
Ngọc hoàng nghe cũng rủ đầy tình thương.
Lạnh lùng hạt quế không hương,
Tố Nga lại nổi ghen tuông tơi bời.
Bãi sông hái cỏ dạo chơi,
Bến Tương luống những trông vời Tương phi,
Giữa dòng lơ lửng làm chi,
Nhà xưa sao chẳng về đi cho rồi.
Há rằng trống rỗng bất tài
Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay.
Nếu ta giữ mực thẳng ngay.
Mưa sa gió táp xem nay cũng thường
Sợ khi lạt thắm phai hương.
Mỹ nhân đến lúc muộn màng hết xuân.

Đạo sĩ nghe mà than rằng:
Sao anh lại ai oán như thế?
Anh không thấy: hoa tử vi trên ao Phượng hoàng, hoa hồng dược trước thềm Ngọc đường đó sao?
Địa vị cao cả; danh tiếng vẻ vang.
Triều minh thánh chúng ta đều được quý: cõi tao nhân anh đi mãi sao đang.

Khách bấy giờ:
Nghe lọt mấy lời; đem lòng kính một.
Ngâm thơ đình thượng của Thành Trai; họa câu phong đầu của Hàn Dũ.
Gõ cửa thiên môn, giãi tấc lòng, kính dâng bài "Ngọc tỉnh liên" phú.
Về Đầu Trang Go down
Shiroi



Tổng số bài gửi: 10578
Registration date: 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Chú thích   Fri 12 Feb 2010, 20:07

Chú thích:

Bài phú này được lấy ý từ bài thơ Ngọc Tỉnh Liên Thi của Hàn Dũ và Ái Liên Thuyết của Chu Đôn Di.

1. Ngọc Tỉnh Liên Thi - Hàn Dũ 玉井蓮詩 < 韓愈 >

太華峰頭玉井蓮,
開花十丈藕如船。
冷比雪霜甘比蜜,
一片入口沈痾痊。
我欲求之不憚遠,
青壁無路難夤緣。
安得長梯上摘實,
下種七澤根株連。

PHIÊN ÂM

Thái Hoá phong đầu Ngọc Tỉnh Liên,
Khai hoa thập trượng ngẫu như thuyền.
Lãnh tỷ tuyết sương cam tỷ mật,
Nhứt phiến nhập khẩu trầm kha thuyên.
Ngã dục cầu chi bất đạn viễn,
Thanh bích vô lộ nan di duyên.
An đắc trường thê thướng trích thật,
Há chúng thất trạch căn chu liên.

DỊCH NGHĨA

Sen Ngọc Tỉnh trên đầu núi Hoá,
Ngó tợ thuyền mười trượng hoa cao .
Lạnh như tuyết sương ngọt như mật ,
Ngậm một miếng bịnh trầm cũng khỏi .
Ta mong cầu khỏi sợ quanh co,
Sườn dốc xanh một không lối trèo .
Sao được thang dài leo lên hái,
Xuống trồng gốc sen trong bảy chằm.

2. Ái Liên Thuyết - Chu Đôn Di 愛蓮說 <周敦頤>

水陸草木之花,可愛者甚蕃。
晉陶淵明獨愛菊;自李唐來,世人盛愛牡丹;予獨愛蓮之出淤泥而不染,濯清漣而不妖,中通外直,不蔓不枝,香遠益清,亭亭靜植,可遠觀而不可褻玩焉。予謂菊,花之隱逸者也;牡丹,花之富貴者也;蓮,花之君子者也。
噫!菊之愛,陶後鮮有聞;蓮之愛,同予者何人;牡丹之愛,宜乎眾矣。

PHIÊN ÂM

Thủy lục thảo mộc chi hoa, khả ái giả thậm phồn.
Tấn Đào Uyên Minh độc ái cúc; tự Lý Đường lai, thế nhơn thịnh ái mẫu đơn; dư độc ái liên chi xuất ứ nê nhi bất nhiễm, trạc thanh liên nhi bất yêu, trung thông ngoại trực, bất mạn bất chi, hương viễn ích thanh, đình đình tĩnh thực, khả viễn quán nhi bất khả tiết ngoạn yên.
Dư vị cúc, hoa chi ẩn dật giả dã; mẫu đơn, hoa chi phú quý giả dã; liên, hoa chi quân tử giả dã.
Y ! Cúc chi ái, Đào hậu tiên hữu văn; liên chi ái, đồng dư giả hà nhơn; mẫu đơn chi ái, nghi hồ chúng hĩ .

DỊCH NGHĨA

Bông của cây cỏ dưới nước trên bờ, nhiều loài dễ mến. Đào Uyên Minh đời Tấn riêng thích cúc; từ Lý Đường trở về sau , người đời rất thích mẫu đơn; riêng tôi, tôi thích hoa sen, ‘gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn’, trơ trọi trên nước lăn tăn mà không ẻo lả, bên trong thông suốt bên ngoài thẳng ngay, chẳng bò dưới đất chẳng phát nhánh cành, mùi thơm truyền xa càng tinh khiết, cắm yên đứng thẳng, có thể ngắm từ xa, nhìn không chán. Ta bảo cúc là hoa của kẻ ẩn dật; mẫu đơn là hoa của bực giàu sang; sen là hoa của quân tử vậy.
Ôi ! Yêu thích cúc, sau họ Đào vẫn còn nghe; có ai yêu thích sen cùng với ta nào; yêu thích mẫu đơn có nhiều kẻ thế ư.

Mạc Đĩnh Chi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đền thờ Mạc Đĩnh Chi ở quê hương.
Mạc Đĩnh Chi (chữ Hán: 莫挺之; 1280-1346) tự Tiết Phu (節夫), làm quan đời Trần Anh Tông. Ông vừa là trạng nguyên của Đại Việt và cũng được phong làm lưỡng quốc trạng nguyên (Trung Hoa và Đại Việt) khi sang sứ Trung Hoa .
Mạc Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, huyện Chí Linh (nay thuộc xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Ông có tướng mạo xấu xí nhưng trí tuệ thông minh.
Năm 1304 đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ 12, triều đình mở khoa thi lấy 44 người đỗ Thái học sinh (tiến sĩ). Mạc Đĩnh Chi đỗ đầu, chiếm học vị trạng nguyên. Ông được cử giữ việc coi sóc thư khố của nhà vua, rồi chức Tả bộc xạ (Thượng thư)... Đặc biệt hai lần đi sứ Trung Quốc, ông đã dùng tài năng và phẩm chất thông minh của mình khiến người nước ngoài phải khâm phục.Về sau ông được cháu 7 đời là Mạc Đăng Dung truy tôn là Kiến Thủy Khâm Ninh Văn Hoàng Đế.

Mục lục

 [ẩn

[sửa] Tài ứng đối

Mạc Đĩnh Chi là người giỏi ứng đối.

[sửa] Tài ứng đối thứ nhất

Năm 1308 Mạc Đĩnh Chi đi sứ nhà Nguyên, đến cửa khẩu sai hẹn, quân Nguyên canh gác bắt phải chờ đến sáng hôm sau. Thấy sứ bộ Đại Việt cứ biện bạch mãi, viên quan phụ trách canh cửa ải thả từ trên lầu cao xuống một câu đối, thử thách sứ bộ Đại Việt nếu đối được thì họ sẽ mở cửa. Câu đối có nội dung như sau:
Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan
(nghĩa là: Tới cửa ải trễ, cửa quan đóng, mời khách qua đường cứ qua)
Một vế đối hóc búa đến 4 chữ quan và 3 chữ quá? Mạc Đĩnh Chi thấy khó, nhưng ông đã nhanh trí dùng mẹo để đối như sau:
Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh Tiên sinh tiên đối
(nghĩa là: Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin mời Tiên sinh đối trước).
Vế đối của ông có 4 chữ đối và 3 chữ tiên, đúng với yêu cầu câu đối của viên quan ấy. Tưởng lâm vào thế bí, hóa ra lại tìm được vế đối hay, khiến người Nguyên phải phục và liền mở cửa ải để đoàn sứ bộ của Mạc Đĩnh Chi qua biên giới.

[sửa] Tài ứng đối thứ hai

Tới kinh đô, Mạc Đĩnh Chi được vời vào tiếp kiến hoàng đế nhà Nguyên. Vua Nguyên đọc một câu đối đòi ông phải đối lại:
Nhật: hỏa; vân: yên; bạch đán thiêu tàn ngọc thỏ.
(nghĩa là: Mặt trời là lửa, mây là khói; ban ngày đốt cháy vầng trăng).
Mạc Đĩnh Chi hiểu rõ dụng ý tỏ vẻ kiêu ngạo của một nước lớn và cả mục đích đe dọa của vua Nguyên. Ông đã ứng khẩu đọc:
Nguyệt: cung; tinh: đạn; hoàng hôn xạ lạc kim ô.
(nghĩa là: Trăng là cung, sao là tên; chiều tối bắn rơi mặt trời).
Vế đối rất chuẩn và tỏ rõ sự cứng rắn của người dân nước Việt, không run sợ và sẵn sàng giáng trả và làm thất bại kẻ thù.
Có thuyết nói rằng vì câu đối này của Mạc Đĩnh Chi, người phương Bắc đoán con cháu ông sau này sẽ làm việc thoán đoạt (ứng với hành động của Mạc Đăng Dung).

[sửa] Tài ứng đối thứ ba

Có lần Mạc Đĩnh Chi sang sứ đúng vào dịp công chúa của vua Nguyên mất. Lúc tế lễ, người Nguyên đưa cho Chánh sứ An Nam bài điếu văn viết sẵn, bảo đọc. Khi Mạc Đĩnh Chi mở giấy ra thì chỉ thấy viết có 4 chữ "Nhất" "-"(là một). Ông chẳng hề lúng túng, vừa nghĩ vừa đọc thành bài điếu văn:
Thanh thiên nhất đóa vân
Hồng lô nhất điểm tuyết
Thượng uyển nhất chi hoa
Dao trì nhất phiến nguyệt
Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!
青天一朵雲
烘爐一點雪
上苑一枝花
瑤池一片月
噫雲散雪消花殘月缺
Tạm dịch:
Một đám mây giữa trời xanh
Một bông tuyết trong lò lửa
Một bông hoa giữa vườn thượng uyển
Một vầng trăng trên mặt nước hồ
Ôi! mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!
Bài văn khiến người Nguyên rất khâm phục.

[sửa] Tài ứng đối thứ tư

Một lần Mạc Đĩnh Chi đến thăm phủ Thừa tướng nhà Nguyên. Trong phủ trang hoàng lộng lẫy, giữa phòng có treo một bức trướng to hình con chim sẻ đậu trên cành trúc trông rất thật. Mạc Đĩnh Chi ngỡ là chim sẻ thật đậu ngoài cửa sổ nên chạy đến chụp thì mới vỡ lẽ đó chỉ là bức hoạ. Thừa tướng và các quan quân nhà Nguyên đều phá lên cười và có ý châm chọc. Mạc Đĩnh Chi vội lấy bức họa xuống và xé toạc thành nhiều mảnh. Mọi người đều kinh ngạc. Bấy giờ ông mới nghiêm mặt giải thích:
Tôi nghe người xưa vẽ cành mai và chim sẻ, chứ chưa thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc bao giờ. Nay trong bức trướng của tể tướng lại thêu cành trúc với chim sẻ. Trúc là bậc quân tử, chim sẻ là kẻ tiểu nhân. Tể tướng thêu như vậy là để tiểu nhân trên quân tử, sợ rằng đạo của tiểu nhân sẽ mạnh, đạo của quân tử sẽ suy. Tôi vì thánh triều mà trừ giúp bọn tiểu nhân.[1].
Một hôm Mạc Đĩnh Chi cùng với phái bộ triều Nguyên đi chơi. Tới gần một cái cầu, chẳng may Trạng Việt Nam bị sa hố, phái bộ đều chạy lại để đỡ ông dậy. Để đùa vui, họ ra cho ông một vế câu đối:
Can mộc, hoành cừ, lục giả tương như tự đạo
(Nghĩa là: Gỗ thẳng, cầu ngang, đường đi ngỡ là đất phẳng)
Cái khó của câu này là ở chỗ dùng toàn tên người ghép lại. Theo đó, can mộc là Đoàn Can Mộc - một nhân vật đời Chiến quốc, Hoành Cừ: tên hiệu của Trương Tải - một triết gia đời Bắc Tống, Lục Giả: người nước Sở, giỏi biện luận, theo giúp Hán Cao Tổ, tương như: Lạn Tương Như, một nhân vật nổi tiếng đời Chiến Quốc, tự đạo: Giả Tự Đạo, người đời nhà Tống, một quyền thần chuyên chế.
Mạc Đĩnh Chi nhìn quanh nom thấy ở bên kia sông có cái đình dưới chân núi, nhân thế chỉ tay thẳng đình mà đối:
Đại đình, an thạch, vọng chi nghiễm nhược Thai sơn
(Nghĩa là: Đình to, đá vững, nhác nom như thể Thiên Thai)
Câu này cũng dùng toàn tên người ghép lại như ở câu trên mà lại có ý khoáng đạt hơn nhiều, theo đó Đại Đình là một biệt hiệu của Thần Nông, an thạch tức Vương An Thạch thừa tướng đời Bắc Tống, Vọng Chí là người đời Hán, làm phụ chính cho Hán Nguyên đế (hai từ "nghiễm nhược" và "Thai sơn", các nhà nghiên cứu cho biết chưa tra cứu ra là ai).
Một lần nữa, người Nguyên lại phải khâm phục tài văn học của Mạc Đĩnh Chi.

[sửa] Lưỡng quốc Trạng nguyên

Lại một lần khác, Mạc Đĩnh Chi cùng với sứ thần một số nước ra mắt vua Nguyên. Nhân có nước nào đó dâng chiếc quạt, vua Nguyên bắt sứ thần Đại Việt và sứ thần Triều Tiên đề thơ. Giữa lúc Mạc Đĩnh Chi còn tìm tứ thơ, thì sứ Triều Tiên đã viết liến thoắng. Ông nhìn theo quản bút đọc thấy sứ Triều Tiên viết hai câu chữ Hán, dịch nghĩa như sau:
"Nóng nực oi ả, thì như Y Doãn, Chu Công" (là những người được vua trọng dụng)
"Rét buốt lạnh lùng, thì như Bá Di, Thúc Tề" (là những người bị ruồng bỏ)
Với sự nhanh trí kì lạ, Mạc Đĩnh Chi liền phát triển hai câu thơ trên thành một bài xuất sắc, mô tả chiếc quạt:
Lưu kim thước thạch, thiên vị địa lô, nhĩ ư tư thì hề, Y Chu cự nho.
Bắc phong kỳ lương, vũ tuyết tái đồ, nhĩ ư tư thì hề, Di Tề ngã phu.
Y! dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ, hữu như thị phù.
Dịch nghĩa:
Chảy vàng, tan đá, trời đất như lò, ngươi bấy giờ là Y Chu đại nho.
Gió bấc căm căm, mưa tuyết mịt mù, ngươi bấy giờ là Di Tề đói xo.
Ôi, được dùng thì làm, bỏ thì nằm co, chỉ ta cùng ngươi là thế ru![1]
Bài của Mạc Đĩnh Chi làm xong trước, ý sắc sảo, văn lại hay, nên vua Nguyên xem xong cứ gật gù khen mãi. Vua Nguyên cảm phục tài và đức của Mạc Đĩnh Chi, và phong "Lưỡng quốc trạng nguyên" (trạng nguyên hai nước) và chữ do chính tay hoàng đế nhà Nguyên viết[2].
" Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi sống rất liêm khiết, thanh bạch.Vì vậy tuy làm quan nhưng vẫn nghèo. Vua Trần Minh Tông biết rõ sự tình nên sai người lúc đang đêm đem 10 quan tiền bỏ trước nhà của ông,.Sáng sớm khi thức dậy, ông cầm số tiền đó vào triều tâu vua.Vua cười bảo:"Không ai đến nhận, khanh cầm lấy mà tiêu".Vua khen ông trong sạch và tặng ông hai chữ "Lịch sự".

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2012


Đăng ngày: 13:53 15-02-2012
Thư mục: thơ
"Tháng giêng là tháng ăn chơi..."
Các cụ bảo thế !
Tháng 2 thì mình bận nhiều việc, có lẽ không còn thời gian viết blog và thăm các bạn thơ nên phải tranh thủ  2 tuần này giao lưu cho đỡ nhớ. Valentine qua rồi nhưng  hương vị, dư âm cùng các cung bậc tình yêu vẫn cứ ngân nga hát:
Valentine...
Valentine...
Valentinne...

Xin gửi vào blog hai  bài thơ BTS viết cho người tình ảo- một bạn thơ vong niên chưa hề biết mặt !

NEO

Thôi mình neo lại ở đây
Nửa câu lục bát heo gầy, xác xơ
Cho dù chín đợi mười chờ
Cũng không chắp nổi nửa câu thơ tình
Thương nhau giấu tiếng, giấu hình
Tận nơi sâu thẳm tim mình, tim ta ...

THƠ CHO NGÀY TÔI THÁC

Gặp nhau tóc đã trắng phau
Biết rằng chẳng có nổi nhau trong đời
Yêu thơ say đắm yêu người
Giữ trong lòng bão nụ cười trong veo
Đời phù du chẳng giàu nghèo
Thác về xin được gói theo thơ người...
  1. thanhda

    thanhda

    12:27 16-02-2012
    Người ta bảo khi cô đơn là lúc làm ra những bài thơ tình hay tuyệt vời.Hai bài thơ trên rất hay.Nhưng không rõ có phải tác giả đang cô đơn hay không?
  2. Bùi  Thị Sơn

    Bùi Thị Sơn

    22:19 16-02-2012
    @Anh thanhda à, em cám ơn anh đã đọc và đồng cảm cùng em. Em xin gửi anh bài thơ" Thực ảo" của một bạn thơ trên Thi viện.net  viết tặng em thay cho câu trả lời anh nhé !
    THỰC ẢO
    (Tặng BTS)
    Hoá thân
    Vào với văn chương
    Em ôm trái đắng
    Trong vườn tương tư
    Ảo huyền
    Chìm đắm câu từ
    Duyên tròn phận méo
    Bỗng như ngoài đời
    Thăng trầm
    Vật vã biển khơi
    Đắng cay nhân vật
    Nghẹn lời sẻ chia
    Sáng đèn
    Mòn bút canh khuya
    Mắt thương nước mắt
    Tràn đìa ướt trang
    Bình minh
    Tròn trái thị vàng
    Em như Cô Tấm
    Bước sang...đời thường...
    ĐT:2-10-2010